Uncategorized

Độ bóng của inox

Dựa vào bảng bên duới chúng ta có thể thấy đuợc inox có nhiều độ bóng khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng của mỗi sản phẩm:

• No1/ 2D/ BTP/ 2B/ BA
• No4/ HL/ Scotch Britgh PVC
• Mirror/ Titan/ Embossing/ Etching PVC
• INOX đen, chưa tẩy bề mặt ( độ chống gỉ không thay đổi)

Trong các ngành công nghiệp duợc phẩm, thực phẩm, y tế thuờng yêu cầu các loại van inox có độ bóng cao để tránh bám cặn vật liệu gây mất vệ sinh.

Mã độ bóng

bề mặt

Phương pháp xử lý bề mặt và ứng dụng

(nguồn: Internet)

No.1 Đây là sản phẩm được làm sạch bề mặt bằng hoá chất và ủ sau giai đoạn cán nóng. Đây là vật liệu dùng để cán nguội hoặc bồn chứa công nghiệp, dụng cụ trong ngành công nghiệp hoá chất.
No.2D Đây là sản phẩm không có bề mặt bóng loáng. Sản phẩm này là thép được ủ và sử lý hoá chất bề mặt sau khi cán nguội. Nguyên liệu này dùng để làm thiết bị trong nhà máy hoá dầu, chi tiết ôtô, vật liệu xây dựng và ống dẫn Inox.
No.2B Đây là loại hàng được sử lý qua bề mặt trên cơ sở bề mặt No.2D. Bề mặt này bóng hơn và nhẵn hơn bề mặt No.2D. Đây là bề mặt tiêu chuẩn và có khả năng tăng cường cơ lý tính của sản phẩm. Vật liệu này được dùng rộng rãi trong mọi trường hợp.
No.3 Sản phẩm này được đánh bóng với phớt đánh bóng với mật độ 100-120 mesh. Nó được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực bao gồm: xây dựng và trang trí nội ngoại thất, dụng cụ gia đình và đồ làm bếp.
No.4 Sản phẩm này được đánh bóng với mật độ 150-180 mesh. So sánh với loại bề mặt No.3 thì nó có bề mặt bóng hơn. No.4 có bề mặt mầu trắng bạc rất hấp dẫn và thường được dùng để làm bồn tắm, trang trí bên ngoài và bên trong các toà nhà và trong công nghiệp chế biến thực phẩm.
BA BA là bề mặt sáng bóng như gương. Nó được làm bóng bằng công đoạn ủ bóng sau khi được cán nguội. BA được dùng cho dụng cụ gia đình, gương nhỏ, đồ làm bếp, vật liệu xây dựng và nhiều vật dụng khác cần bề mặt sáng bóng.
HL HL là loại bề mặt có đường vân kẻ dọc. Vân này được tạo ra bởi máy đánh bóng dùng phớt đánh bóng cho No.4. Loại sản phẩm có bề mặt HL thường được dùng cho trang trí nội và ngoại thất, cửa và khuôn cửa.
Dull Bề mặt mờ sỉn là bề mặt được tạo ra bởi cách làm giảm độ bóng của No.2B và tạo nhám bề mặt. Loại vật liệu này dùng để trang trí nội ngoại thất; làm trần và vách của thang máy

Thép Vietnam tiếp tục bị áp thuế chống bán phá giá

Thép Việt Nam tiếp tục bị ủy ban chống bán phá giá của Indonesia áp dụng mức thuế chống bán phá giá thêm 5 năm nữa.

Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) vừa nhận được thông báo từ Thương vụ Việt Nam tại Indonesia về việc KADI ban hành kết luận cuối cùng vụ việc rà soát hoàng hôn đối với biện pháp chống bán phá giá thép cuộn cán nguội (CRC/S) nhập khẩu từ Việt Nam, lãnh thổ Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Theo đó, Ủy ban chống bán phá giá của Indo tiếp tục giữ nguyên mức thuế chống bán phá giá thêm 5 năm đối với Việt Nam ở mức thuế 12,3-27,8%,. Mức thuế của Việt Nam cao hơn so với Hàn Quốc (10,1%–11%), lãnh thổ Đài Loan (5,9%-20,6%), nhưng lại thấp hơn khá nhiều nếu so với Nhật Bản (18,6%-55,6%) và Trung Quốc (13,6%-43,5%).

Vụ việc được khởi xướng điều tra chống bán phá giá từ năm 2011 theo yêu cầu của nguyên đơn là Công ty PT Krakatau Steel.

Tháng 3-2012, Bộ Tài chính Indonesia ra quyết định áp thuế chống bán phá giá ở mức 5,9%-55,6% (tùy quốc gia) cho sản phẩm nói trên.

Đến tháng 9-2015, phía Indonesia tiến hành rà soát thuế theo quy định, sau đó tiếp tục áp thuế chống bán phá giá với quan điểm không đổi trong quá trình điều tra rà soát các sản phẩm thep của Việt Nam

 

Các quy trình sản xuất thép không gỉ

Thép không rỉ (ahy còn gọi là INOX) được chế tạo trong một lò hồ điện quang trong đó các điện cực carbon tiếp xúc với các mảnh vụn thép không rỉ tái chế và các hợp kim Crom khác nhau (có thể là hợp kim Cr Ni, Cr Mo.. tuỳ theo loại thép không rỉ tương ứng).

Một dòng điện đi qua điện cực này và nhiệt độ sẽ tăng lên tới một điểm mà các mảnh vụn thép không rỉ và  hợp  kim này  sẽ được tan chảy ra. Thép nóng chảy (lỏng) này sẽ được chuyển sang lò thổi  (bằng AOD Argon Oxygen Decarbonization), Trong lò thổi này, khí trơ Argon và Oxy được thổi mạnh vào thép để khử hết tạp chất carbon . Ở đây mức các bon sẽ đ ược giảm xuống (ghi nhớ là thép không rỉ sẽ có hàm lượng các bon thấp hơn rất nhiều so với các loại thép mềm) và việc gia tăng hợp kim cuối cùng đ ược thực hiện nhằm đảm bảo độ chính xác về tính chất hoá học cho thép.

Mô tả quá trình từ khi nung chảy đến khi đổ khuôn thành phôi/thỏi thép hay tiếp tục đúc thành dạng tấm hay thanh. Sau đó vật liệu này đ ược cán nóng hay rèn thành các dạng sản phẩm thép cuối cùng. Một số nguyên liệu này được cán nguội để tiếp tục làm giảm độ dầy thành tấm hay kéo thành ống và dây có đ ường kính nhỏ.

Phần lớn các loại thép không rỉ được ủ ở công đoạn sau cùng (là 1 công đoạn nhiệt luyện làm ổn định tổ chức tinh thể của thép, vì bị biến cứng do xô lệch trong quá trình cán) và tẩy bề mặt (1 hỗn hợp các axít đc sử dụng để tẩy các vẩy gỉ sét do quá trình nung ủ, nhằm thúc đẩy quá trình hình thành lớp màng bảo vệ cực mỏng (Ô-xit Crôm) một cách tự nhiên. (sau quá trình này: mặt đen thép sẽ thành mặt inox trắng)

BTC đề nghị giảm thuế nhập khẩu đối với quặng sắt

Theo thông tin từ Bộ Tài chính được gửi tới 8 doanh nghiệp đã có đê nghị giảm thuế nhập khẩu quặng sắt thì:

Không có căn cứ để giảm thuế nhập khẩu quặng sắt:

Tại văn bản này, Bộ Tài chính cho biết, kiến nghị điều chỉnh giảm thuế xuất khẩu quặng sắt xuống 5% của các doanh nghiệp là không phù hợp với Nghị quyết số 710/2008/NQ-UBTVQH12.

Lý do, Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành tại Nghị quyết số 710/2008/NQ-UBTVQH12 ngày 22/11/2008 thì khung thuế suất thuế xuất khẩu của mặt hàng quặng sắt là 15%-40%, không có mức thuế 5%. Do đó, đề nghị các doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng sắt thực hiện theo mức thuế suất thuế xuất khẩu hiện hành.

Hơn nữa, cũng theo Bộ Tài chính, tại Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản, mặt hàng quặng sắt là mặt hàng thuộc diện cấm xuất khẩu.

Đồng thời, theo Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo “không xuất khẩu quặng thô”.

Sẽ có điều chỉnh quy định về phí bảo vệ môi trường:

Đối với kiến nghị về thuế giá trị gia tăng (GTGT), Bộ Tài chính cho biết, Khoản 23 Điều 5 Luật thuế GTGT hợp nhất số 05/VBHN-VPQH ngày 11/7/2013 quy định “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Còn sản phẩm khoáng sản khai thác, chưa chế biến thành sản phẩm khác bán trong nước thuộc đối tượng áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng là 10%.

Luật thuế GTGT không có quy định về miễn, giảm thuế giá trị gia tăng do đó kiến nghị giảm thuế của các doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng sắt là không phù hợp với quy định của Luật thuế GTGT.

Cũng theo Bộ Tài chính, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đang thực hiện theo quy định tại Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 28/5/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Dự kiến Nghị định số 74/2011/NĐ-CP sẽ được sửa đổi trong năm 2015.

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản dự kiến sửa đổi được tính theo “cấp độ gây ô nhiễm” trong quá trình khai thác, không căn cứ vào tình hình giá bán quặng sắt trên thị trường thế giới để điều chỉnh phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Đối với thuế tài nguyên, Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành tại Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2014 đã điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với quặng sắt từ 10% lên 12%.

Việc điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với mặt hàng quặng sắt theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13, theo Bộ Tài chính, đã tính đến đảm bảo hiệu quả khai thác cũng như đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp./.

Dự kiến tăng trưởng ngành thép 2016

Theo các chuyên gia dự báo ngành thép năm 2016 sẽ tăng trưởng khoảng 15% so với năm 2015.

Theo báo cáo tháng 01/2016 của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã cho thấy một cái nhìn khá tích cực. Theo VSA, với những cơ hội và thách thức đan xen, năm 2016, ngành công nghiệp thép Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng. Dự báo toàn ngành năm 2016 sẽ tăng trưởng xấp xỉ 15% so với năm 2015. 

Áp lực cạnh tranh từ thép Trung Quốc giảm nhưng vẫn còn rất lớn

Tình trạng dư cung trên thị trường và áp lực cạnh tranh khốc liệt từ thép Trung Quốc giá rẻ được nhận định tiếp tục là những thách thức mà các doanh nghiệp thép phải đối mặt trong năm 2016. Dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành vẫn kỳ vọng một mức tăng trưởng nhẹ.

Ông Nguyễn Thanh Nghĩa, Chủ tịch HĐQT CTCP Đại Thiên Lộc (DTL) cho biết, khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp thép trong nước là sản phẩm thép Trung Quốc hiện đang tràn ngập thị trường. Trung Quốc hiện là nước sản xuất thép lớn nhất thế giới, cung cấp 48% sản lượng thép trên toàn cầu. Để thâm nhập vào các nước trong khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam, thép Trung Quốc đã hạ giá đủ để cạnh tranh với thép nội địa của các nước trong khu vực.

Theo phân tích của lãnh đạo DTL, do kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, quy hoạch ngành thép với công suất thiết kế quá lớn khiến cho lượng cung vượt xa so với sức cầu nội địa đang yếu đi rõ rệt, các doanh nghiệp thép nước này bắt buộc phải tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu, dù  cho phải bán với giá thấp hơn giá thành. Đối với DTL, năm 2016, Công ty đặt mục tiêu đạt hơn 2.000 tỷ đồng doanh thu và hơn 20 tỷ đồng lợi nhuận, tăng trưởng nhẹ từ 5% đến 10% so với năm 2015.

Ông Lê Minh Hải, Chủ tịch HĐQT CTCP Ống thép Việt Đức (VGS) cho rằng, trước đây, việc nhiều doanh nghiệp cả trong và ngoài ngành đổ xô vào đầu tư, kinh doanh thép đã dẫn đến tình trạng cung vượt cầu. Đến nay, chỉ những doanh nghiệp nào tính toán đúng thì mới tồn tại. Dù tình hình khó khăn, nhưng hầu hết các doanh nghiệp thép đều có lãi và hầu hết các chỉ tiêu đều tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2014. Với VGS, năm qua, Công ty ước đạt 54 tỷ đồng lợi nhuận, tăng gấp đôi so với kế hoạch ĐHCĐ giao phó.

Ông Hải cũng dẫn chứng số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong năm 2015 cho thấy sản sản lượng thép của Việt Nam đạt 14.988.000 tấn, tăng 21,54% so với năm 2014. Nhập khẩu thép thành phẩm năm 2015 đạt 792.000 tấn, tăng 22,56% so với cùng kỳ 2014…

Năm 2016 có thẻ tin rằng thị trường thép sẽ tăng trưởng nhẹ

Nhìn nhận về triển vọng của ngành thép trong năm 2016, ông Hải cho rằng, tuy khó kỳ vọng tăng trưởng đột biến, nhưng nhìn chung vẫn có rất nhiều cơ hội khi Việt Nam chính thức gia nhập TPP.

“Năm 2015 là năm của phòng vệ thương mại đối với ngành thép. Mong rằng, trong năm 2016, Chính phủ tiếp tục có những phương án phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm thép”, ông Hải nói.

Không chỉ các doanh nghiệp thép có quy mô vừa và nhỏ, mà ngay cả các doanh nghiệp lớn trong ngành cũng được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều thử thách, nhưng vẫn có kỳ vọng về sự tăng trưởng nhẹ.

Trong báo cáo phân tích về cổ phiếu HPG của Tập đoàn Hòa Phát, CTCK Vietcombank (VCBS) cho rằng, năm 2016 được nhận định là một năm khó khăn đối với toàn ngành thép nói chung và HPG nói riêng. VCBS dự báo, doanh thu HPG được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng nhẹ, tuy nhiên, do biên lợi nhuận gộp thu hẹp sẽ khiến cho lợi nhuận sau thuế tăng trưởng chậm lại. Dự  báo, doanh thu đạt 29.849 tỷ  đồng  và lợi nhuận sau thuế đạt 4.073 tỷ  đồng, tăng nhẹ so với mức dự phóng của nhiều CTCK đối với HPG trong năm 2015 (doanh thu thuần HPG đạt 27.457 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 4.064 tỷ đồng).

Dự báo, trong năm 2016, tình trạng dư cung trong ngành thép có thể tiếp tục do các doanh nghiệp trong ngành không chịu cắt giảm sản lượng để giữ vững thị phần, thậm chí một số doanh nghiệp lớn như HPG, HSG sẽ hoàn thành kế hoạch nâng công suất. Bên cạnh đó, giá bán thành phẩm thép tiếp tục giảm theo xu hướng của giá nguyên liệu đầu vào, nguồn cung dồi dào từ trong và ngoài nước sẽ đẩy giá thép xuống sâu trong những năm tới. Lượng tồn kho thép xây dựng lớn, trong khi giá nguyên liệu lẫn thành phẩm vẫn đang tiếp tục giảm, khiến chi phí trích lập giảm giá hàng tồn kho tăng cao.

Báo cáo tháng 1/2016 của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) dự báo toàn ngành năm 2016 sẽ tăng trưởng xấp xỉ 15% so với năm 2015. Trong đó, phôi thép tăng trưởng 10% so với năm 2015; thép xây dựng tăng trưởng 15%; thép lá cuộn cán nguội tăng trưởng 13%; thép ống hàn tăng trưởng 18% và tôn mạ và sơn phủ màu tăng trưởng 15%.

Hi vọng rằng thị trường thép sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới!

Sản phẩm tôn nhái TQ gắn thương hiệu Việt

Tôn Trung Quốc gắn thương hiệu Việt NAM khiến  nhiều doanh nghiệp điêu đứng

Trong thời gian qua, hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại và hàng giả mặt hàng tôn thép liên tục diễn ra phức tạp với thủ đoạn tinh vi, quy mô ngày càng lớn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chân chính của các doanh nghiệp (DN), gây thiệt hại về kinh tế và suy yếu niềm tin người tiêu dùng (viết tắt là NTD).

Doanh nghiệp chân chính bị yếu thế do giá cao

Theo ước tính của Hiệp hội Thép Việt Nam, với sức tiêu thụ mặt hàng tôn thép hiện nay, hàng năm NTD bị thiệt hại hàng trăm tỉ đồng và ngân sách nhà nước cũng bị thiệt hại đáng kể do những chiêu trò gian lận của một số DN, đơn vị phân phối, đại lý mặt hàng tôn thép mạ và phủ màu. “Trong 9 tháng đầu năm, các nhà sản xuất tôn thép chỉ tiêu thụ được 2.268.000 tấn. Trong khi đó, khối lượng nhập khẩu (NK) vào để tiêu thụ trong nước là 1.078.000 tấn. Như vậy, tôn NK chiếm tới 32,2% thị trường trong nước (năm 2014 là 26,3%), chủ yếu là tôn mạ NK từ Trung Quốc (TQ) có giá rẻ, chất lượng kém. Loại tôn này được đội lốt bằng cách in nhãn mác giả dưới các thương hiệu của các DN có uy tín tại VN để tiêu thụ” – ông Nguyễn Văn Sưa – Phó Chủ tịch Hiệp hội thép VN – cho biết.

“Các DN chân chính bị ảnh hưởng nặng nề do hệ quả của việc gian lận thương mại gây ra. Tôn gian, tôn kém chất lượng dễ dàng đánh lừa NTD bằng giá cả thấp hơn so với hàng chính hiệu, dẫn đến việc DN bị mất thị phần tiêu thụ. Mặt khác, với tình trạng tôn gian, tôn kém chất lượng tràn lan trên thị trường sẽ tạo ra môi trường kinh doanh không lành mạnh, triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh của các DN chân chính trong nước, kéo theo việc suy giảm cả ngành công nghiệp tôn thép và dẫn đến thiệt hại cho nền kinh tế” – ông Vũ Văn Thanh – Phó TGĐ Tập đoàn Hoa Sen – lo ngại.

Cần phải có biện pháp xử lý mạnh tay
 “Hành vi giả nhãn hiệu của các DN lớn, tôn mỏng nhưng ghi trên nhãn tôn dày hơn để lừa dối NTD nhằm thu lợi bất chính đã đủ dấu hiệu cho thấy đây là hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, vi phạm pháp luật về chất lượng hàng hóa. Vì vậy, cần xử lý mạnh tay hơn và nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm cần chuyển sang cơ quan điều tra xem xét” – ông Nguyễn Mạnh Hùng – Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD VN – nhấn mạnh. Các DN trong nước cũng phải tích cực áp dụng các biện pháp chống hàng giả và biện pháp kỹ thuật để NTD dễ dàng nhận biết sản phẩm của mình, đồng thời phải nhanh chóng cung cấp các thông tin đến NTD những dấu hiệu để phân biệt hàng giả với hàng thật do mình sản xuất, cung ứng ra thị trường.
Theo Mr Vũ Văn Thanh, cần phải có chế tài mạnh để kiểm tra nghiêm ngặt, xử lý triệt để đối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh gian dối, kiếm lời bất chính. Sau đó, biện pháp mang tính khả thi cao đó là ban hành một quy định cụ thể và chặt chẽ về vấn đề in thông tin sản phẩm trên bề mặt tôn. Cụ thể, trên bề mặt tôn phải có dòng in thể hiện rõ thông tin để NTD và cơ quan quản lý dễ dàng nhận biết bằng mắt thường, dòng in phải được lặp lại mỗi 6m suốt chiều dài của sản phẩm bao gồm các thông tin bắt buộc như tên hàng hóa, tên nhà sản xuất, xuất xứ, tiêu chuẩn áp dụng, mác thép, độ dày và tỉ trọng sản phẩm, lượng mạ, độ dày sơn.
Mong rằng các cơ quan chức năng trong thời gian tới sẽ xử lý tốt để đảm bảo quyền lợi DN Việt và NTD.