Chương trính xúc tiến thương mại quốc gia đã được phê duyệt

Ngày 18/01/ 2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương, ông Vũ Huy Hoàng đã ký Quyết định số 206/QĐ-BCT để phê duyệt Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia trong năm 2016, theo đó Hiệp hội Thép Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức Đoàn giao thương tới Nga

Thực hiện Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại (XTTM) quốc gia, ngày 18 tháng 01 năm 2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đã ký Quyết định số 206/QĐ-BCT phê duyệt Chương trình XTTM quốc gia năm 2016 gồm 177 đề án của 67 đơn vị chủ trì với tổng kinh phí là 90 tỷ đồng. Năm 2016, Hiệp hội Thép Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức Đoàn giao thương tại Nga.

Chương trình XTTM quốc gia 2016 bao gồm các hoạt động XTTM thiết thực, khả thi, có kế hoạch triển khai ngay từ đầu năm bao gồm hoạt động XTTM phát triển thị trường, mặt hàng xuất khẩu, Hội chợ chuyên ngành trong nước, Hội chợ thực hiện tại nước ngoài, Đoàn giao dịch thương mại tại nước ngoài, Hội nghị quốc tế ngành hàng, Hoạt động đón các nhà nhập khẩu nước ngoài vào giao dịch mua hàng, Thông tin thương mại, Đào tạo, tư vấn, XTTM của các vùng kinh tế, đào tạo nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức XTTM. Song song với việc thực hiện mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, Chương trình XTTM quốc gia năm 2016 tiếp tục triển khai các hoạt động XTTM phát triển thị trường nội địa, nông thôn, miền núi, biên giới, các địa phương còn khó khăn, góp phần thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động.

Năm 2015, với sự hỗ trợ từ Chương trình XTTM quốc gia, sự hiện diện của sản phẩm xuất khẩu Việt Nam tại các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc ngày càng mở rộng. Đồng thời, Chương trình đã hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục quay trở lại thị trường Liên bang Nga, các nước Đông Âu, tăng cường hoạt động tại thị trường Myanmar, Lào, Campuchia, một số nước Trung Đông và Châu Phi, giúp các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ vào thị trường các nước nói trên; xúc tiến đẩy mạnh hoạt động thương mại, đầu tư; nâng cao vị thế và hình ảnh của Việt Nam. Các hoạt động XTTM trong nước, miền núi, biên giới và hải đảo cũng đã góp phần tích cực trong việc phát triển, mở rộng thị trường trong nước.

Theo thống kê sơ bộ, Chương trình xúc tiền thương mại quốc gia 2015 đã hỗ trợ hỗ trợ 8.850 lượt doanh nghiệp, 14.499 gian hàng tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước, thu hút trên 3 triệu lượt khách tham quan, mua sắm và ký kết được rất nhiều hợp đồng kinh tế có tổng trị giá trên 858 triệu đô la và khoảng 637,8 tỷ đồng. Mong rằng năm 2016 chương triwnhf sẽ được triển khai và mang lại hiệu quả tốt hơn nữa.

Dự đoán giá sắt thép sau tết Bính Thân

Trái ngược với tình hình thị trường sắt thép trong những năm đầu của tk 21, thị trường sắt thép trong năm 2016 và trong thời gian tới được các chuyên gia dự báo là sẽ tiếp tục có chiều hướng đi xuống.
Theo nhiều thông tin bất lợi từ thị trường như là Việt Nam mở cửa tự do mua bán, dẫn đến việc các nước ồ ạc đầu tư hoặc các đại gia sắt thép tràn vào thị trường Việt Nam.

Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc cạnh tranh của các doanh nghiệp thép Việt Nam và doanh nghiệp thép trên thế giới như Nga, Mỹ, Trung Quốc….

Những cạnh tranh này tác động trực tiếp đến thị trường cũng như về giá sắt thép xây dựng năm 2016.

Và trong năm 2015 khi mà thị trường chỉ mở cửa một phần thì chúng ta cũng chứng kiến gần 10 lần giảm giá mạnh của các đại da sắt thép như : Thép Việt Nhật, Thép Pomina, Thép Việt Úc…

Điều này rất có lợi cho người tiêu dùng Việt Nam , thế nhưng nó lại gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế của chúng ta, Những doanh nghiệp thép lớn của chúng ta có khả năng cạnh tranh với những doanh nghiệp thép thế giới hay không ?.

Nếu như những doanh nghiệp thép của chúng ta mất sức cạnh tranh thì chúng ta đối diện với nguy cơ là độc quyền về thép , dẫn đến cán cân thương mại bị phá vỡ.

Vì vậy đây là một vấn đề hết sức nghiêm trọng. Chính vì vậy theo chúng tôi thì giá sắt thép xây dựng năm 2016 sẽ tiếp tục chửng lại hoặc giảm mạnh do sự cạnh tranh từ thép Trung quốc

Mong rằng trong thời gian tới các nhà chức trách và các doanh nghiệp sẽ tìm ra những biện pháp để cải thện tình hình này.

Tình trạng buôn lậu quặng sắt vẫn đang diễn ra

Thuế suất nhập khẩu quặng sắt của VN hiện đang đứng top đầu thế giới ở ngưỡng 30-40%, điều này dẫn đến việc buôn lậu rất nhiều qua biên giới, Việc vận chuyển quặng sắt là vô cùng khó khắn nhưng nó vẫn đc đưa lậu qua biên giới dễ dàng, đâu là nguyên nhân? Gần nửa năm sau, hỉ thị 02 về việc tăng cường quản lý các hoạt động xuất khẩu khoáng sản, trong đó đưa ra chủ trương “dừng hoàn toàn việc xuất khẩu quặng sắt”, vô hình trung đã làm cho việc nâng thuế suất lên 40% không còn ý nghĩa.
Thậm chí, theo ông Đỗ Thiên Anh Tuấn – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, thuế suất cao đang tạo động cơ xuất lậu và làm lợi cho một số đối tượng nhưng quan trọng hơn chính sách này đang vô hình trung hỗ trợ cho ngành công nghiệp thép Trung Quốc. Đấy là chưa kể cơ hội trục lợi cho một số nhóm lợi ích bất chính, từ doanh nghiệp sử dụng thép làm nguyên liệu đầu vào cho đến cơ quan quản lý tài nguyên và xuất nhập khẩu. Những mỏ quặng trữ lượng thấp, phân tán là miếng bánh dễ dàng bị xâu xé, gây ô nhiễm môi trường, phá vỡ quy hoạch ngành thép, và làm tổn hại đến môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp ngành thép. Nhìn ra thế giới, nhiều nước từ lâu đã bỏ sắc thuế này. Ấn Độ là quốc gia hiếm hoi tăng thuế xuất khẩu quặng sắt nhưng mức thuế suất vẫn thấp hơn nhiều so với Việt Nam.

Nếu thực tâm muốn điều tiết sản lượng, thuế tài nguyên, mức 12%, mới là đối tượng cần điều chỉnh tăng đi kèm với biện pháp siết chặt công tác quản lý tài nguyên quặng sắt, theo ông Tuấn. Những bất cập từ chính sách di hại vào thực tiễn. Quặng sắt vẫn lừng lững vượt biên.

Có khác biệt đáng kể cả về lượng và giá quặng sắt Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc trong năm trong năm 2013 khi đối chiếu số liệu do hải quan hai nước công bố (xem bảng 1). Hệ quả là thất thu ngân sách gần 4.000 tỉ đồng (xem bảng 2), gồm thuế xuất khẩu, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và phí bảo trì đường bộ.
Báo Hải quan khi dẫn nguồn tin từ Bộ Công thương cho hay tổng công suất thiết kế các mỏ sắt đã được khai thác trên địa bàn cả nước khoảng 4,5 triệu tấn/năm, vượt xa lượng cầu trong nước. Con số này gần đúng bằng lượng quặng Trung Quốc nhập khẩu từ Việt Nam cũng trong năm này. Vậy những nhà máy sử dụng công nghệ lò cao (luyện thép từ quặng sắt) lấy nguyên liệu từ đâu để sản xuất? Chỉ tính riêng Công ty cổ phần tập đoàn Hòa Phát đã tiêu thụ 1,6 triệu tấn quặng sắt trong năm 2013. Thêm nữa, sau khi Chỉ thị 02 có hiệu lực, giá quặng trong nước rẻ hơn quặng nhập khẩu. Phải chăng tổng công suất thiết kế các mỏ sắt năm 2013 không dừng lại ở con số 4,5 triệu tấn như tính toán của Bộ Công thương?

Thực tế, các cơ quan quản lý Nhà nước gặp không ít khó khăn trong việc kiểm soát sản lượng từng mỏ. Một báo cáo của Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho hay tính đến tháng 5/2013, gần 90% trong tổng số số 4.782 giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực do chính quyền cấp tỉnh cấp phép. Một chuyên gia kinh tế nhận xét có những mỏ lớn, đáng ra thuộc thẩm quyền trung ương thì lại bị chia nhỏ để địa phương cấp phép.

Năm 2013, cả nước tồn kho khoảng 3 triệu tấn quặng sắt. Nhiều mỏ  kêu không tìm được đầu ra trong nước. Đây là cơ sở để Bộ Công thương đề xuất “giải pháp tình thế” với Chính phủ, cho phép xuất khẩu 1,9 triệu tấn. Phần còn lại phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước. Dù dư cung nhưng thực tế là không phải ai cũng có thể mua quặng trực tiếp từ mỏ, nhất là những doanh nghiệp đòi hỏi minh bạch hóa đơn chứng từ.

Ngoài nghi vấn trốn thuế, việc không xuất hóa đơn còn giúp chủ mỏ tránh bạch hóa công suất khai thác. Theo Bộ Công thương, trong vòng 12 năm qua, mỗi năm ngân sách chỉ dành 180 tỉ đồng cho hoạt động điều tra cơ bản khoáng sản.

Thông tin từ Cục kiểm soát hoạt động khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết chưa đến phân nửa tổ chức và cá nhân khai thác khoáng sản báo cáo định kỳ, chưa kể thông tin báo cáo chưa đầy đủ. Sản lượng khai thác lại do doanh nghiệp tự khai, tự chịu trách nhiệm khi thực hiện nghĩa vụ thuế, phí đối với Nhà nước.

Sự vênh lệch đáng kể về giá và lượng quặng sắt xuất khẩu ghi nhận bởi hải quan Việt Nam và hải quan nước nhập khẩu là Trung Quốc không phải câu chuyện mới, đã có nhiều tiền lệ, gần nhất là hai năm 2011 và 2012. Quặng sắt không phải “cây kim sợi chỉ” mà giắt trong bọc, dễ dàng qua mặt cơ quan chức năng. Vận chuyển quặng sắt đòi hỏi phương tiện cơ giới hóa, theo đường bộ, đường sông hoặc đường biển. Vậy thì ai, những ai đang dọn đường cho voi chui lọt lỗ kim?

Các cơ quan chức năng cần có các biện pháp để chấm dứt tình trạng này, giảm thất thu cho ngân sách nhà nước!

Cần có sự thay đổi về phát triển ngành thép?

Nhập khẩu công nghệ đã bị đối thủ thải loại, liệu doanh nghiệp lò cao còn bao nhiêu dư địa để cạnh tranh sòng phẳng?

Trong bài viết trước, chúng tôi đã phân tích về chuyện thuế suất cao và chính sách ảnh hưởng đến câu chuyện xuất lậu khoáng sản. Bài viết tiếp theo sẽ nhìn nhận góc độ cạnh tranh của DN chế biến trong nước.

Chỉ dùng đến 50% công suất thực tế

Trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn, khoảng 70% doanh nghiệp trong ngành báo lỗ hoặc giảm lãi, thì một số đơn vị vẫn tiếp tục bứt phá, một phần do chọn lựa công nghệ.Ví dụ, Hòa Phát với công nghệ đi từ quặng sắt cho đến sản phẩm cuối cùng theo công nghệ lò cao. Khác với công nghệ lò hồ quang (đầu vào là thép phế liệu).

DN này cũng chính là đơn vị mà hồi giữa năm nay từng gửi công văn đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương và VSA “đề nghị cấm xuất khẩu quặng sắt để dành nguyên liệu cho các dự án lò cao trong nước”.

Khi đó, 13 doanh nghiệp ứng dụng công nghệ lò hồ quang đồng loạt ký kiến nghị khẩn thiết gửi Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đề nghị xem xét lại chính sách cấm xuất khẩu quặng sắt.

Theo “nhóm 13”, hiệu lực chính sách khiến giá quặng sắt giảm gần phân nửa so với giá thế giới, giúp HPG có lợi thế cạnh tranh.

Những diễn biến trên thị trường cho thấy nhiều doanh nghiệp tỏ ra hụt hơi trong cuộc đua xuống giá. Pomina, từng nhiều năm giữ vị trí quán quân thị phần, cũng chấp nhận buông sau gần một năm cầm cự. Ông Chu Đức Khải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) nói phần lớn doanh nghiệp trong ngành chỉ vận hành từ 40% đến 60% công suất.

Hiện nay cả nước vẫn còn 13 doanh nghiệp khác sử dụng công nghệ lò cao nhưng phần lớn quy mô nhỏ, dao động quanh mức 200 ngàn tấn/năm.

Đáng kể có Nhà máy gang thép Thái Nguyên (Tisco) và đặc biệt là Nhà máy gang thép Việt Trung (VTM), mới khánh thành hồi tháng 9 vừa qua. Phía Việt Nam chiếm 55% vốn góp trong tổng đầu tư 337,52 triệu USD. Nguồn quặng lấy từ mỏ Quý Sa, trữ lượng 120 triệu tấn. Được biết, than cốc, phụ liệu không thể thiếu đối với công nghệ lò cao, do đối tác Trung Quốc cung cấp theo hình thức đối lưu. Phương tiện hoán đổi là quặng sắt. Lợi ích của hình thức này là không phát thải ô nhiễm trong quá trình luyện cốc. VTM hiện là đơn vị sử dụng lò cao có dung tích lớn nhất hiện nay, 550 khối, công suất giai đoạn 1 là 500 ngàn tấn thép/năm.

Cần tận dụng lợi thế

Một trong những mục tiêu của chính sách cấm xuất khẩu quặng là nhằm bảo vệ tài nguyên phục vụ sản xuất trong nước. Nhưng một câu hỏi đặt ra là liệu những doanh nghiệp trong nước nói chung và ngành thép nói riêng có tận dụng được ưu thế này để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế?

Bất lợi đáng kể của Việt Nam là ở cạnh người láng giềng khổng lồ.

Năm 2013, Trung Quốc sản xuất 780 triệu tấn thép, xuất khẩu 60 triệu tấn, trong đó khoảng 1/4 đổ vào thị trường ASEAN.

Nhìn lại Việt Nam, cũng trong năm này, thị trường hấp thu khoảng 5 triệu tấn thép xây dựng, tức là chưa đạt phân nửa công suất thiết kế của toàn ngành (11,3 triệu tấn). Hiện Trung Quốc tồn kho trên 160 triệu tấn. Nếu họ xả hàng thì ngành thép sẽ “khốn khổ” – chữ của ông Khải.

Thời gian gần đây rộ lên thông tin chính phủ Trung Quốc loại bỏ lò dung tích dưới 1.000 khối. Dung tích càng lớn, càng tiết kiệm nhiên liệu. Phần lớn các doanh nghiệp trong nước đều nhập khẩu công nghệ lò cao từ Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng chưa phải là quốc gia có công nghệ lò cao tiên tiến nhất thế giới. Bằng chứng là họ từng nhập khẩu những lò 3,4 ngàn khối từ Nhật Bản, theo ông Khải.

Nhập khẩu công nghệ đã bị đối thủ thải loại, liệu doanh nghiệp lò cao còn bao nhiêu dư địa để cạnh tranh sòng phẳng?

Trong khi dư luận bày tỏ quan ngại về dự án Formosa thì ông Khải lại tỏ ra lo lắng tương lai ngành thép khi đề cập đến vòng đàm phán thành lập khu vực mậu dịch tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga – Belarus – Kazakhstan.

Nga sở hữu hệ thống lò cao lên đến 5 ngàn khối, bắt đầu vận hành từ nửa đầu thập niên 1990. Để sản xuất một tấn thép, các nhà máy của Nga cần 150kWh, mức tiêu hao điện năng chỉ bằng 1/3 so với Việt Nam.

Đại diện VSA bày tỏ mong muốn những sản phẩm thép trong nước sản xuất được Chính phủ bảo hộ thêm 5 – 10 năm để giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn hay không, ngành thép vẫn phải cạnh tranh với phần còn lại của thế giới. Năng suất quyết định tồn vong. Bằng không, việc giữ lại tài nguyên phục vụ nền sản xuất trong nước, xem ra cũng chỉ là nỗ lực trong tuyệt vọng.

Liệu, đây có phải là câu chuyện riêng của ngành thép?

Có nên “làm tất ăn cả”?

Nhận xét đây là tư duy lạc hậu, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright – phân tích: “Có sự ngộ nhận giữa việc bán tài nguyên thô giá 10 đồng với bán thành phẩm giá 100 đồng. Vấn đề then chốt là giá trị gia tăng.

Nếu cần thêm hơn 90 đồng chi phí kinh tế để có thành phẩm giá 100 đồng thì cách tốt hơn là bằng lòng bán tài nguyên thô với giá 10 đồng và dành nguồn lực đó để đầu tư cho những ngành công nghiệp mà chúng ta có lợi thế cạnh tranh và có thể dành chiến thắng. Thử nhìn sang Úc, dù đứng thứ hai thế giới về trữ lượng quặng sắt, trên cả Ấn Độ, nhưng quốc gia này cũng không chủ trương phát triển ngành thép”

Chúng ta cần có những tính toán chi tiết để thấy có nên tiếp tục đầu tư vào một thị trường đang có độ cạnh tranh khốc liệt như vậy hay không

BTC đề nghị giảm thuế nhập khẩu đối với quặng sắt

Theo thông tin từ Bộ Tài chính được gửi tới 8 doanh nghiệp đã có đê nghị giảm thuế nhập khẩu quặng sắt thì:

Không có căn cứ để giảm thuế nhập khẩu quặng sắt:

Tại văn bản này, Bộ Tài chính cho biết, kiến nghị điều chỉnh giảm thuế xuất khẩu quặng sắt xuống 5% của các doanh nghiệp là không phù hợp với Nghị quyết số 710/2008/NQ-UBTVQH12.

Lý do, Biểu thuế xuất khẩu theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành tại Nghị quyết số 710/2008/NQ-UBTVQH12 ngày 22/11/2008 thì khung thuế suất thuế xuất khẩu của mặt hàng quặng sắt là 15%-40%, không có mức thuế 5%. Do đó, đề nghị các doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng sắt thực hiện theo mức thuế suất thuế xuất khẩu hiện hành.

Hơn nữa, cũng theo Bộ Tài chính, tại Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản, mặt hàng quặng sắt là mặt hàng thuộc diện cấm xuất khẩu.

Đồng thời, theo Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo “không xuất khẩu quặng thô”.

Sẽ có điều chỉnh quy định về phí bảo vệ môi trường:

Đối với kiến nghị về thuế giá trị gia tăng (GTGT), Bộ Tài chính cho biết, Khoản 23 Điều 5 Luật thuế GTGT hợp nhất số 05/VBHN-VPQH ngày 11/7/2013 quy định “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Còn sản phẩm khoáng sản khai thác, chưa chế biến thành sản phẩm khác bán trong nước thuộc đối tượng áp dụng mức thuế suất giá trị gia tăng là 10%.

Luật thuế GTGT không có quy định về miễn, giảm thuế giá trị gia tăng do đó kiến nghị giảm thuế của các doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng sắt là không phù hợp với quy định của Luật thuế GTGT.

Cũng theo Bộ Tài chính, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản đang thực hiện theo quy định tại Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 28/5/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản. Dự kiến Nghị định số 74/2011/NĐ-CP sẽ được sửa đổi trong năm 2015.

Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản dự kiến sửa đổi được tính theo “cấp độ gây ô nhiễm” trong quá trình khai thác, không căn cứ vào tình hình giá bán quặng sắt trên thị trường thế giới để điều chỉnh phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Đối với thuế tài nguyên, Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành tại Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2014 đã điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với quặng sắt từ 10% lên 12%.

Việc điều chỉnh tăng mức thuế suất thuế tài nguyên đối với mặt hàng quặng sắt theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13, theo Bộ Tài chính, đã tính đến đảm bảo hiệu quả khai thác cũng như đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp./.

Nghịch lý trong xuất nhập khẩu quặng sắt tại Việt Nam

Trong khi rất nhiều doanh nghiệp khai thác, chế biện quặng sắt trong nước đang đề nghị Chính phủ giảm thuế, phí và xuất khẩu quặng sắt tồn kho vì quá khó khăn, thì vài doanh nghiệp lớn lại phải tìm nguồn quặng sắt để nhập khẩu.

Trong khi quặng sắt trong nước không bán được thì lại xuất hiện tình trạng nhập về để sản xuất.

Theo thống kê của Hiệp hội Thép Việt Nam, tổng công suất của các lò cao đang hoạt động tại Việt Nam là 2 triệu tấn, riêng Hòa Phát là hơn 1 triệu tấn. Tuy nhiên, công suất của các lò cao đang xây dựng theo quy hoạch của Bộ Công thương lên đến gần 10 triệu tấn/năm.

Cũng theo Hiệp hội Thép Việt Nam, lượng quặng cần sử dụng cho giai đoạn sau năm 2015 là hơn 20 triệu tấn và nhu cầu quặng sắt sẽ tăng gấp nhiều lần trong 5 năm tiếp theo

Ông Mai Văn Hà, Giám đốc Công ty CP thép Hòa Phát (Tập đoàn Thép Hòa Phát) trao đổi với báo chí: Công ty vừa nhập khẩu lô hàng tinh quặng có khối lượng 55.000 tấn, được nhập về từ Nam Phi, có hàm lượng sắt cao, tỷ lệ tạp chất thấp, phù hợp cho các lò cao sản xuất gang thép của Hòa Phát. Chúng tôi đã bắt đầu buộc phải tìm nguồn nguyên liệu bên ngoài vì trong nước không cung ứng đủ.

Hơn nữa, ở thời điểm này, giá mua quặng của thế giới chỉ khoảng trên 50 USD/tấn, còn rẻ hơn mua trong nước nên nhập về cũng giúp đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho lò cao của khu liên hợp gang thép của chúng tôi.

Quặng trong nước đang không thiếu, nhưng làm sao để sản xuất quặng chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh là câu chuyện hiện nay của ngành khai thác quặng sắt. Việt Nam đã hội nhập khá sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, trong đó có lĩnh vực mỏ, khoáng sản và đều được điều chỉnh theo các nguyên tắc thị trường.

Hiện nay, để vận hành một Khu Liên hợp gang thép Hòa Phát với công suất gần 2 triệu tấn từ năm 2016, Hòa Phát đang cần một lượng quặng rất lớn để phục vụ cho máy móc chạy thông suốt 24/7. Vậy nên việc đáp ứng các tiêu chí của Hòa Phát thì ngành khai thác quặng sắt trong nước sẽ có một hướng đi cho mình. Tuy nhiên, đến nay, để đáp ứng tiêu chí này, ít tỉnh thành đã đáp ứng được yêu cầu của họ.

Đứng trước những nguyên nhân chủ quan và khách quan, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp khai thác quặng sắt trong nước đã gặp khó khăn với đầu ra ngoài thị trường trong nước. Lý giải về tình trạng không xuất khẩu được, nhiều doanh nghiệp cho rằng đó là do phải chịu mức chịu mức thuế xuất khẩu khá cao, lên tới 40%. Trước tình hình hiện nay, các doanh nghiệp khai thác quặng sắt kiến nghị Chính phủ xem xét được tăng hạn ngạch xuất khẩu và giảm thuế xuất khẩu quặng sắt.

Theo lý giải của các doanh nghiệp này, khi được tăng lượng xuất khẩu, đồng nghĩa với mở rộng thị trường, doanh nghiệp khai thác quặng sẽ không phải chịu cảnh khốn đốn như hiện nay. Riêng về thuế xuất khẩu quặng sắt, các doanh nghiệp kiến nghị Bộ Tài chính xem xét giảm thuế suất xuống còn 5% để góp phần tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất, bảo đảm công ăn việc làm cho người lao động.

Hiện ngoài thuế xuất khẩu, VAT hay thuế thu nhập doanh nghiệp, các doanh nghiệp khai thác quặng sắt còn chịu các thuế, phí khác như: phí môi trường, thuế tài nguyên, quỹ phục hồi môi trường, thuế quyền khai thác mỏ…

Theo ông Phạm Lê Hùng – Tổng giám đốc Công ty CP Khoáng sản và Luyện kim Thăng long, các mức thuế, phí này về cơ bản rất hợp lý. Tuy nhiên, đối với các mỏ quặng nghèo (thành phần TFe 30-35%), thì lại chưa ổn. Bởi lẽ, với các mỏ quặng nghèo, doanh nghiệp phải đầu tư dây chuyền nghiền mịn rồi mới thu được mạt sắt; đầu tư công nghệ xử lý môi trường. Chi phí cho khâu đầu tư này rất tốn kém.

Cũng theo cách lý giải này, cùng với thực tế khai thác của các doanh nghiệp, cho thấy, nếu theo cách tính hiện nay, càng khai thác quặng nghèo – quặng có giá trị kinh tế thấp hơn thì tiền thuế, phí càng cao. Trong khi đó, tại các mỏ  ở các tỉnh như Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ có đến 80% là quặng nghèo mà nếu không được khai thác thì sẽ gây lãng phí lượng lớn tài nguyên quốc gia.

Các chuyên gia khoáng sản đã nhận định, nếu không tính toán kĩ chúng ta sẽ đối mặt với mối lo ngại từ việc phải nhập khẩu chính khoáng sản đã xuất thô ồ ạt với giá rẻ trước đây. Nếu chúng ta không mạnh tay chấm dứt tình trạng này, năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước sẽ bị ảnh hưởng nặng khi chúng ta buộc phải nhập khẩu khoáng sản với giá đắt để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước.

Nhiều dự án ảo của ngành thép Trung Quốc

Tin tức thép Trung Quốc:

Trong những ngày cuối năm 2012, ngành thép Trung Quốc tiếp tục xôn xao sau khi chính phủ tuyên bố sẽ chi Ngân sách hơn 1 nghỉn tỉ NDT (157,7 tỉ USD) để xây dựng các cơ sở hạ tầng mới ở nông thôn trong năm 2013.

Dự án tiền tỉ này nghe có vẻ rất hoành tráng với lời khẳng định chắc nịch để đô thị hóa vùng nông thôn nhằm rút bớt khoảng cách chênh lệch với đô thị. Nhưng nếu suy ngẫm một cách thấu đáo người ta không khỏi giật mình phải chăng đó là một chiêu bài cao tay của các nhà cầm quyền Trung Quốc phục vụ một nhóm lợi ích nào đó trong ngành thép.

sau 2011, nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu sa sút đã kéo ngành thép đứng trước nguy cơ đổ vỡ và suy yếu kéo dài trong năm 2012. Ngành thép vốn là một ngành siêu lợi nhuận và nó đại diện cho lợi ích nhóm (chủ yếu đầu tư bởi những người lắm của nhiều tiền và các quan chức chính phủ). Song với lợi ích nhóm các nhà đầu tư không thể để đồng tiền chảy khỏi tầm tay nên đã cùng nhau vạch ra một dự án hoàn hảo trên mà thời gian thực hiện lại không có ngày hẹn ước.

Nếu đơn thuần nhìn vào thì cho đó là một sự nỗ lực to lớn của chính phủ để hỗ trợ cho sự phục hồi của ngành thép vì nhu cầu thép trong xây dựng sẽ tăng mạnh, và cũng vì thế giá thép sẽ tăng mạnh cùng với thời điểm gần kề tết Nguyên Đán.Một thời điểm khá nhạy cảm cho việc tăng giá theo chu kỳ về cuối năm của những năm trước cùng với sự tác động của chính phủ Trung Quốc , cuối cùng cũng đã làm thị trường nội địa + xuất khẩu Trung Quốc tăng trưởng mạnh về số lượng và giá cả.Điều này đem lại lợi nhuận cho một số người/nhóm người tranh thủ bán đi hàng hoá, tranh thủ tăng giá trong những tháng cuối năm và sau đó họ có thể nhàn nhã nhìn các đối thủ/người mua của mình oằn mình trong việc kinh doanh lỗ.

Thực tế đã chứng minh, kể từ sau tết Nguyên đán đến nay, giá thép tại thị trường nội địa Trung Quốc đổ dốc không phanh “nhờ” các chính sách tiếp theo của chính phủ Trung Quốc như: Trong khi thời hạn thực thi của dự án tiền tỉ trên vẫn chưa được ấn định mà lại đón tin dữ chính phủ Trung Quốc tuyên bố tăng cường kiểm soát thị trường bất động sản bằng cách đánh và tăng thêm nhiều loại thuế đối với các chủ sở hữu bất động sản và thắt chặt đối với các chủ đầu tư, khiến thị trường thép trượt dài từ đó.

Tháng 3 thật buồn bã với giá xuống thấp, tồn kho cao và sản lượng lập kỷ lục mới và giá thép của Trung Quốc khả năng sẽ còn giảm trong tháng 4.

Về mặt  chính sách vĩ mô chung, thì Trung Quốc vẫn phải thực hiện việc kiểm soát thị trường bất động sản….. việc tung ra tuyên bố 1 nghỉn tỉ NDT chỉ là đòn gió cho một nhóm người trục lợi.Việc này đã ảnh hưởng không ít đến thị trường thép nói chung

Các doanh nghiệp nhỏ bị thiệt hại lớn

Như đã biết, các công ty thép tư nhân ở Trung Quốc mọc ra như nấm và sản xuất vô tội vạ, gây mất cân bằng cung-cầu của thị trường và thay đổi giá xoành xoạch gây ảnh hưởng lớn đến các nhà máy lớn. Khi nghe thông tin tuyên bố trên, hi vọng vào một thị trường tăng trưởng về số lượng và giá cả, các nhà sản xuất tư nhân tranh thủ tăng cường sản lượng và hiện nay tồn kho được báo cáo tăng hàng ngày, lượng hàng hoá sản xuất này qua tết Nguyên Đán đã bị tồn kho cao và giá giảm, gây lỗ lớn cho các nhà máy.Trong khi đó những người/nhóm người chủ động đã giải quyết xong hàng hoá và đợi đợt sóng mới. 

Tăng giá trị xuất khẩu:

Với siêu dự án thì có vẻ như giá thép chắc chắn sẽ tăng mạnh trong tương lai, và giá cả từ thị trường thép Trung Quốc có sự ảnh hưởng lớn đến giá thép của thế giới, vì vậy người mua trong nước lẫn nước ngoài phải tranh nhau mua vào trước khi giá tăng mạnh. Nhờ đó mà các nhà sản xuất không những giải quyết được vấn đề tồn kho mà còn mang lại giá trị lợi nhuận cao cho các DN nội địa Trung Quốc kể từ khi giá bán liên tục tăng hồi cuối tháng 10.

Mua được nguyên liệu thô giá rẻ:

Thị trường thép Trung Quốc sử dụng một số lượng nguyên liệu thô bằng một  nửa thế giới.Vì vậy, việc mua nguyên liệu của họ hết sức quan trọng.Việc làm cho thị trường thép trượt dài về giá cả và lượng hàng tồn gia tăng khiến các nhà cung cấp nguyên liệu thô mất phương hướng và kéo theo sự trượt dài của giá cả.Giá quặng 62% Fe fines theo Steel Index đã giảm từ 148 usd trước tết Nguyên Đán còn 134 usd/tấn trong tháng 3;  lúc này các nhà máy nhỏ đã không còn sức để mua vào và lúc này tất nhiên sẽ là sự ra tay của các đại gia thép Trung Quốc thu gom các nguyên liệu thô.Khi hoàn thành việc này và vào một thời điểm thích hợp, có thể một chính sách mới sẽ được công bố tạo cú hích ngắn hạn cho thị trường thép Trung Quốc, và tất nhiện chỉ tạo được lợi nhuận cho một số người biết trước hoặc lợi dụng được thời cơ này

Thị trường cổ phiếu ngành thép tiếp tục ảm đạm

Thị trường cổ phiếu ngành thép tiếp tục ảm đạm trong năm 2016

Ngành thép Việt có một năm sóng gió trước ảnh hưởng của khủng hoảng thừa và thép Trung Quốc tràn sang, cổ phiếu liên tục mất giá, nhiều công ty liên tục bị thua lỗ trong những năm gần đây, các mã chứng khoán tốp đầu cũng có biểu đồ đi xuống trong cả năm quavà khả năng sẽ tiếp tục đi xuống trong thời gian tới.

Toàn thế giới đang trong giai đoạn khủng hoảng thừa đối với ngành sản xuất thép. Lượng thép sản xuất ra không tiêu thụ hết, đặc biệt là Trung Quốc, do đó các nước thừa thép tìm cách nhập khẩu vào các thị trường dễ tính, không yêu cầu các tiêu chuẩn kỹ thuật cao, trong đó Việt Nam là một thị trường hấp dẫn. Trong năm 2015, Trung Quốc xuất khẩu vào Việt Nam hơn 8,4 triệu tấn thép, giá trị hơn 3,7 tỷ USD và chiếm tỷ trọng khoảng hơn 60% và con số này tiếp tục gia tăng, đặc biệt trong năm 2016 dự báo thép Trung Quốc ồ ạt vào Việt Nam mạnh mẽ hơn.
Việc Trung Quốc đã xuất khẩu thép vào thị trường  Việt Nam ồ ạt đã khiến nhiều doanh nghiệp Việt lao đao, nhiều công ty bị thua lỗ nặng dẫn đến phá sản.

Đơn cử như thép Bắc Việt (BVG). Báo cáo tài chính của công ty này cho biết, quý 1 năm 2015 BVG thua lỗ 8,6 tỷ, Quý 2 năm 2015 thua lỗ 3,1 tỷ. Hiện công ty chưa có báo cáo quý 3 và quý 4 của năm 2015 nhưng nhìn sang năm 2014, thép Bắc Việt có một năm kinh doanh ảm đạm, lỗ triền miên.

Thép Việt Ý (VIS) cũng có một bức tranh màu xám. Quý 4 năm 2015 thép Việt Ý lỗ 26,2 tỷ, trước đó Quý 1 của 2015 công ty này lỗ 39,5 tỷ. Cả năm 2015 là một năm “đen” của thép Việt Ý khi thị trường không có nhiều khả quan và gặp sự cạnh tranh khốc liệt trong tiêu thụ thép nội địa với các công ty nhập khẩu thép Trung Quốc.

Công ty Thép Pomina cũng không đứng ngoài cuộc trong bối cảnh này. Liên tiếp hai quý 3 và 4 năm 2014 POM lỗ triền miên, sang Quý 1 năm 2015, POM lỗ 33 tỷ phải sang quý 2 và quý 3 POM mới vực dậy phục hồi với con số khả quan, đạt lợi nhuận sau thuế hơn 34,4 tỷ vào quý 3.

Câu chuyện cạnh tranh với thép Trung Quốc có từ chục năm nay, nhưng kể từ năm 2014 trở lại đây việc nước này xuất khẩu thép ồ ạt vào Việt Nam làm cho toàn thị trường bị xáo trộn, ảnh hưởng nặng nề, thậm chí một số doanh nghiệp đứng trên bờ vực phá sản.

Cục phó Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) Nguyễn Phương Nam cho biết kinh tế Trung Quốc có tình trạng sản xuất thừa, hàng hóa trong nước cung vượt cầu, doanh nghiệp buộc phải tìm cách tiêu thụ sản phẩm ở thị trường ngoài nước. Đi cùng với tình trạng dư thừa hàng hóa ấy là chính sách giảm thuế xuất khẩu của Trung Quốc khiến doanh nghiệp có lợi trong xuất khẩu ra thế giới.

Các doanh nghiệp cần nhanh chóng tìm các biện phá khắc phục để có thể tồn tại và tiếp tục phát triển trong thời gian tới.

Dự kiến tăng trưởng ngành thép 2016

Theo các chuyên gia dự báo ngành thép năm 2016 sẽ tăng trưởng khoảng 15% so với năm 2015.

Theo báo cáo tháng 01/2016 của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đã cho thấy một cái nhìn khá tích cực. Theo VSA, với những cơ hội và thách thức đan xen, năm 2016, ngành công nghiệp thép Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng. Dự báo toàn ngành năm 2016 sẽ tăng trưởng xấp xỉ 15% so với năm 2015. 

Áp lực cạnh tranh từ thép Trung Quốc giảm nhưng vẫn còn rất lớn

Tình trạng dư cung trên thị trường và áp lực cạnh tranh khốc liệt từ thép Trung Quốc giá rẻ được nhận định tiếp tục là những thách thức mà các doanh nghiệp thép phải đối mặt trong năm 2016. Dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành vẫn kỳ vọng một mức tăng trưởng nhẹ.

Ông Nguyễn Thanh Nghĩa, Chủ tịch HĐQT CTCP Đại Thiên Lộc (DTL) cho biết, khó khăn lớn nhất đối với các doanh nghiệp thép trong nước là sản phẩm thép Trung Quốc hiện đang tràn ngập thị trường. Trung Quốc hiện là nước sản xuất thép lớn nhất thế giới, cung cấp 48% sản lượng thép trên toàn cầu. Để thâm nhập vào các nước trong khu vực ASEAN, trong đó có Việt Nam, thép Trung Quốc đã hạ giá đủ để cạnh tranh với thép nội địa của các nước trong khu vực.

Theo phân tích của lãnh đạo DTL, do kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, quy hoạch ngành thép với công suất thiết kế quá lớn khiến cho lượng cung vượt xa so với sức cầu nội địa đang yếu đi rõ rệt, các doanh nghiệp thép nước này bắt buộc phải tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu, dù  cho phải bán với giá thấp hơn giá thành. Đối với DTL, năm 2016, Công ty đặt mục tiêu đạt hơn 2.000 tỷ đồng doanh thu và hơn 20 tỷ đồng lợi nhuận, tăng trưởng nhẹ từ 5% đến 10% so với năm 2015.

Ông Lê Minh Hải, Chủ tịch HĐQT CTCP Ống thép Việt Đức (VGS) cho rằng, trước đây, việc nhiều doanh nghiệp cả trong và ngoài ngành đổ xô vào đầu tư, kinh doanh thép đã dẫn đến tình trạng cung vượt cầu. Đến nay, chỉ những doanh nghiệp nào tính toán đúng thì mới tồn tại. Dù tình hình khó khăn, nhưng hầu hết các doanh nghiệp thép đều có lãi và hầu hết các chỉ tiêu đều tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2014. Với VGS, năm qua, Công ty ước đạt 54 tỷ đồng lợi nhuận, tăng gấp đôi so với kế hoạch ĐHCĐ giao phó.

Ông Hải cũng dẫn chứng số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong năm 2015 cho thấy sản sản lượng thép của Việt Nam đạt 14.988.000 tấn, tăng 21,54% so với năm 2014. Nhập khẩu thép thành phẩm năm 2015 đạt 792.000 tấn, tăng 22,56% so với cùng kỳ 2014…

Năm 2016 có thẻ tin rằng thị trường thép sẽ tăng trưởng nhẹ

Nhìn nhận về triển vọng của ngành thép trong năm 2016, ông Hải cho rằng, tuy khó kỳ vọng tăng trưởng đột biến, nhưng nhìn chung vẫn có rất nhiều cơ hội khi Việt Nam chính thức gia nhập TPP.

“Năm 2015 là năm của phòng vệ thương mại đối với ngành thép. Mong rằng, trong năm 2016, Chính phủ tiếp tục có những phương án phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm thép”, ông Hải nói.

Không chỉ các doanh nghiệp thép có quy mô vừa và nhỏ, mà ngay cả các doanh nghiệp lớn trong ngành cũng được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều thử thách, nhưng vẫn có kỳ vọng về sự tăng trưởng nhẹ.

Trong báo cáo phân tích về cổ phiếu HPG của Tập đoàn Hòa Phát, CTCK Vietcombank (VCBS) cho rằng, năm 2016 được nhận định là một năm khó khăn đối với toàn ngành thép nói chung và HPG nói riêng. VCBS dự báo, doanh thu HPG được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng nhẹ, tuy nhiên, do biên lợi nhuận gộp thu hẹp sẽ khiến cho lợi nhuận sau thuế tăng trưởng chậm lại. Dự  báo, doanh thu đạt 29.849 tỷ  đồng  và lợi nhuận sau thuế đạt 4.073 tỷ  đồng, tăng nhẹ so với mức dự phóng của nhiều CTCK đối với HPG trong năm 2015 (doanh thu thuần HPG đạt 27.457 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 4.064 tỷ đồng).

Dự báo, trong năm 2016, tình trạng dư cung trong ngành thép có thể tiếp tục do các doanh nghiệp trong ngành không chịu cắt giảm sản lượng để giữ vững thị phần, thậm chí một số doanh nghiệp lớn như HPG, HSG sẽ hoàn thành kế hoạch nâng công suất. Bên cạnh đó, giá bán thành phẩm thép tiếp tục giảm theo xu hướng của giá nguyên liệu đầu vào, nguồn cung dồi dào từ trong và ngoài nước sẽ đẩy giá thép xuống sâu trong những năm tới. Lượng tồn kho thép xây dựng lớn, trong khi giá nguyên liệu lẫn thành phẩm vẫn đang tiếp tục giảm, khiến chi phí trích lập giảm giá hàng tồn kho tăng cao.

Báo cáo tháng 1/2016 của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) dự báo toàn ngành năm 2016 sẽ tăng trưởng xấp xỉ 15% so với năm 2015. Trong đó, phôi thép tăng trưởng 10% so với năm 2015; thép xây dựng tăng trưởng 15%; thép lá cuộn cán nguội tăng trưởng 13%; thép ống hàn tăng trưởng 18% và tôn mạ và sơn phủ màu tăng trưởng 15%.

Hi vọng rằng thị trường thép sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới!

Sản phẩm tôn nhái TQ gắn thương hiệu Việt

Tôn Trung Quốc gắn thương hiệu Việt NAM khiến  nhiều doanh nghiệp điêu đứng

Trong thời gian qua, hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại và hàng giả mặt hàng tôn thép liên tục diễn ra phức tạp với thủ đoạn tinh vi, quy mô ngày càng lớn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chân chính của các doanh nghiệp (DN), gây thiệt hại về kinh tế và suy yếu niềm tin người tiêu dùng (viết tắt là NTD).

Doanh nghiệp chân chính bị yếu thế do giá cao

Theo ước tính của Hiệp hội Thép Việt Nam, với sức tiêu thụ mặt hàng tôn thép hiện nay, hàng năm NTD bị thiệt hại hàng trăm tỉ đồng và ngân sách nhà nước cũng bị thiệt hại đáng kể do những chiêu trò gian lận của một số DN, đơn vị phân phối, đại lý mặt hàng tôn thép mạ và phủ màu. “Trong 9 tháng đầu năm, các nhà sản xuất tôn thép chỉ tiêu thụ được 2.268.000 tấn. Trong khi đó, khối lượng nhập khẩu (NK) vào để tiêu thụ trong nước là 1.078.000 tấn. Như vậy, tôn NK chiếm tới 32,2% thị trường trong nước (năm 2014 là 26,3%), chủ yếu là tôn mạ NK từ Trung Quốc (TQ) có giá rẻ, chất lượng kém. Loại tôn này được đội lốt bằng cách in nhãn mác giả dưới các thương hiệu của các DN có uy tín tại VN để tiêu thụ” – ông Nguyễn Văn Sưa – Phó Chủ tịch Hiệp hội thép VN – cho biết.

“Các DN chân chính bị ảnh hưởng nặng nề do hệ quả của việc gian lận thương mại gây ra. Tôn gian, tôn kém chất lượng dễ dàng đánh lừa NTD bằng giá cả thấp hơn so với hàng chính hiệu, dẫn đến việc DN bị mất thị phần tiêu thụ. Mặt khác, với tình trạng tôn gian, tôn kém chất lượng tràn lan trên thị trường sẽ tạo ra môi trường kinh doanh không lành mạnh, triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh của các DN chân chính trong nước, kéo theo việc suy giảm cả ngành công nghiệp tôn thép và dẫn đến thiệt hại cho nền kinh tế” – ông Vũ Văn Thanh – Phó TGĐ Tập đoàn Hoa Sen – lo ngại.

Cần phải có biện pháp xử lý mạnh tay
 “Hành vi giả nhãn hiệu của các DN lớn, tôn mỏng nhưng ghi trên nhãn tôn dày hơn để lừa dối NTD nhằm thu lợi bất chính đã đủ dấu hiệu cho thấy đây là hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, vi phạm pháp luật về chất lượng hàng hóa. Vì vậy, cần xử lý mạnh tay hơn và nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm cần chuyển sang cơ quan điều tra xem xét” – ông Nguyễn Mạnh Hùng – Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD VN – nhấn mạnh. Các DN trong nước cũng phải tích cực áp dụng các biện pháp chống hàng giả và biện pháp kỹ thuật để NTD dễ dàng nhận biết sản phẩm của mình, đồng thời phải nhanh chóng cung cấp các thông tin đến NTD những dấu hiệu để phân biệt hàng giả với hàng thật do mình sản xuất, cung ứng ra thị trường.
Theo Mr Vũ Văn Thanh, cần phải có chế tài mạnh để kiểm tra nghiêm ngặt, xử lý triệt để đối với các cơ sở sản xuất và kinh doanh gian dối, kiếm lời bất chính. Sau đó, biện pháp mang tính khả thi cao đó là ban hành một quy định cụ thể và chặt chẽ về vấn đề in thông tin sản phẩm trên bề mặt tôn. Cụ thể, trên bề mặt tôn phải có dòng in thể hiện rõ thông tin để NTD và cơ quan quản lý dễ dàng nhận biết bằng mắt thường, dòng in phải được lặp lại mỗi 6m suốt chiều dài của sản phẩm bao gồm các thông tin bắt buộc như tên hàng hóa, tên nhà sản xuất, xuất xứ, tiêu chuẩn áp dụng, mác thép, độ dày và tỉ trọng sản phẩm, lượng mạ, độ dày sơn.
Mong rằng các cơ quan chức năng trong thời gian tới sẽ xử lý tốt để đảm bảo quyền lợi DN Việt và NTD.